quang cao center banner

Cửa Lò - viên ngọc xanh của xứ Nghệ

Thứ ba - 06/10/2009 22:00
Viên ngọc đẹp ấy nằm giữa hai con Rồng: Thanh Long (Rồng Xanh - tên gọi của sông Lam xưa) và Long Thủ (núi Đầu Rồng, hay còn gọi là Rồng Xá Hải ở Nghi Thiết) đang quẫy mình, tung sóng như cố tranh cho được viên ngọc về phía mình. Đất ấy có cái thế Lưỡng Long triều Châu (hai con Rồng chầu ôm viên Ngọc) là thế đất rất tốt của xứ Nghệ vậy.

Thị xã Cửa Lò được bồi tụ phù sa của hai con sông, sông Lam ở phía Nam và sông Cấm ở phía Bắc, còn phía Đông là biển Đông trong xanh, ngày đêm sóng vỗ. Bởi thế, thị xã Cửa Lò được gọi là thị xã biển, vốn hình thành từ hàng triệu năm, được tách ra khỏi huyện Nghi Lộc từ ngày 29/8/1994 (theo Nghị định 113 của Chính phủ), với diện tích tự nhiên 2.670ha (chưa tính đảo Ngư và đảo Mắt), dân số hơn 50.000 người, gồm các phường, xã: Nghi Tân, Nghi Thuỷ, Thu Thuỷ, Nghi Thu, Nghi Hương, Nghi Hoà, Nghi Hải.

Hai cửa sông,  cửa  biển của  thị xã  Cửa Lò đều là những địa danh nổi tiếng trong lịch sử nước nhà và thế giới:

Cửa Hội xưa từng là một thương cảng có nhiều tàu thuyền vào ra buôn bán, tàu thuyền đánh cá tấp nập đêm ngày. Thực dân Pháp từng mở Cảng Bến Thuỷ để đón các tàu buôn của thế giới qua đường Cửa Hội, làm cho Vinh trở thành một đô thị sầm uất nhất nước ta lúc bấy giờ. Sông Lam có nguồn từ hàng trăm sông suối hội nước về biển Ngư, nên cửa biển ở đây gọi là Cửa Hội. Tiến sĩ Dương Thúc Hạp từng làm bài thơ Hội Hải (phần dịch của Phạm Nhượng) ca ngợi như sau:

Một vùng trời biển bao la

Chân - Nghi hai huyện giao hoà Bắc, Nam

Ngàn trùng dòng nước sông Lam

Thao thao từ chốn sơn lâm đổ về

Song Ngư hai ngọn gần kề

Cao cao trước mặt bốn bề gió ru

Sớm chiều thuyền cá nhấp nhô

Tàu buôn qua lại bốn mùa đó đây...

Vùng biển Cửa Hội rộng và đẹp, còn gọi là biển Ngư vì có đảo Ngư, đảo Mắt. Vua Lê Thánh Tông Nam chinh thường nghỉ lại nơi đây và làm các bài thơ ca ngợi rất nổi tiếng. Trong bài thơ Vịnh cửa Đan Nhai có câu: “Thanh Long triều trướng thuỷ liên thiên” (Sông Thanh Long triều lên nước tiếp trời). Nhà vua đã gọi sông Lam là Thanh Long (con Rồng Xanh).

Đảo Song Ngư như hai con cá đang bơi lội, quẫy sóng biển khơi, tung tăng cùng du khách trên bãi tắm Cửa Lò. Trên đảo có chùa, gọi là Song Ngư Tự, còn gọi là chùa Đảo Ngư. Chùa được xây dựng từ triều Lý - Trần, vừa là nơi thờ Phật, vừa thờ Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn - Thần sông biển của Việt Nam. Dân chài Cửa Lò, Cửa Hội thường lên chùa cầu yên, cầu lộc mỗi khi ra biển lớn...

Cửa Lò (trước gọi là Cửa Xá) là cửa biển do nước sông Cấm đổ về. Hai bên bờ sông có núi non nối nhau chạy về phía biển, tô vẽ cho bức tranh thị xã Cửa Lò thêm sống động. Ở bên tả ngạn sông là núi Rồng (Long Sơn), nay thuộc xã Nghi Thiết, đầu núi hướng ra biển, màu đá sáng tươi đặc trưng, dáng núi như con Rồng chầu, đầu mũi núi nơi sau mép nước biển mặn có giếng nước ngọt gọi là giếng Mắt Rồng. Nước giếng rất trong và nông nhưng không bao giờ cạn, được nhân dân lấy về tế lễ các thần linh như thần Sát Hải Đại Vương, đồng thời cũng là nguồn nước uống cho những người làm nghề trên biển. Đối diện với Long Sơn, bên hữu ngạn, thuộc phường Nghi Tân là Lô Sơn (Núi Lò). Dưới núi là cảng biển Cửa Lò, ngày đêm có tàu thuyền vào ra xuất nhập hàng hoá, là cảng thương mại lớn của tỉnh Nghệ An. Tiến sĩ Dương Thúc Hạp cũng từng làm bài thơ Xá Hải (Cửa Xá) - (Phần dịch của nhà giáo Cao Thế Lữ) như sau:

 Trước Cửa Xá, Long Sơn án ngự

Vạch rành rành địa giới Hưng - Chân

Chống trời thẳm, Song Ngư  sừng sững

Sóng điệp trùng trời nước không phân

Lèn Chu (Lèn Ngọc), còn gọi là đảo Lan Châu (Đảo Ngọc Đẹp) ở bên cửa biển Cửa Lò có cả dải đá ngầm đủ hình thù nhấp nhô trên sóng biển, tô đẹp và làm sinh động thêm cho bãi tắm Thu Thuỷ, Cửa Lò.

 Mạch ngầm của mảnh đất Cửa Lò cũng chính là con Rồng (Long ẩn), mà phần lưng và chân trồi lên ở phường Nghi Thu, xã Nghi Khánh thuộc hai thôn có tên gọi từ xa xưa là Thu Lũng (lưng Rồng) và Long Trảo (móng Rồng)... Để thêm vây, thêm mắt, tạo dáng cho con Rồng ấy, ông Đùng (ông khổng lồ) từ thủa kiến tạo trời đất đã vãi rơi một loạt hòn núi lớn nhỏ đủ các hình thù kỳ thú như: núi Voi (Tượng Sơn), núi Cờ (Kỳ sơn), núi Kiếm (Kiếm Sơn), thỏi Mực (Mặc Sơn), núi Lò (Lô Sơn), hòn Ngọc (Lan Châu Sơn), hòn Mắt (Nhãn Sơn), đảo Song Ngư (Song Ngư Sơn)... Chưa có nơi nào mà núi được đặt tên gắn liền, gần gũi với con người và quần tụ đông đảo như ở nơi đây. Quả không sai khi người ta gọi vùng đất này là nơi nhân sơn quần tụ. Chung quanh là các núi non có tiếng như Lữ Sơn, Thần Vũ, Đại Vạc, Đại Huệ, Tứ Mã, Thiên Nhẫn, Lam Thành Sơn, Quyết Sơn, Hồng Lĩnh... chầu về đất này. Đất ấy, núi ấy, sông biển ấy chính là tú khí của xứ Nghệ:

Hồng Lĩnh sơn cao

Song Ngư hải khoát

Nhược ngộ minh thời

Nhân tài tú phát

Nghĩa là:

Núi Hồng Lĩnh cao

Biển Song Ngư rộng

Gặp thời khai sáng

Nhân tài đua phát

Cái tên Cửa Lò không biết có từ khi nào, chỉ biết các làng xã xưa của Cửa Lò đều thuộc tổng Thượng Xá, vì ở đây có Cửa Xá. Sách Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch, viết vào thời vua Gia Long, triều Nguyễn (khoảng năm ông làm Đốc học Nghệ An 1804-1808) có ghi: Cửa Xá ở giáp giới giữa hai huyện Hưng Nguyên và Chân Phúc, có sông Cấm chảy ra. Sách Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược Nghệ An tỉnh, khi viết về Cửa Xá đã thấy chú thích là Cửa Lò. Đã có nhiều giả thiết lý giải cho tên gọi Cửa Lò, như từ tên lò nấu muối, từ ngọn gió lùa ra biển nghe như tiếng thổi bễ lò rèn, là cửa sông từ ngôn ngữ tên gọi của người Đa Đảo... Người ta đã không nghĩ đến, tại vùng đất sát cửa biển này còn có một ngọn núi mang tên là Lô Sơn (núi Lò). Phải chăng cửa biển Cửa Lò chính là xuất phát từ tên gọi của núi Lò mà ra? Ngay dưới chân núi Lò có một ngôi chùa cổ từ triều Lê Trung Hưng là Phổ Am Tự cũng được gọi là chùa Lô Sơn (chùa núi Lò). Phó bảng Đốc học Nghệ An Hoàng Văn Cư, người làng Vạn Lộc (nay thuộc phường Nghi Tân) rất tự hào với tú khí và nhân vật của quê hương mình ở dưới chân núi Lò nên đã sáng tác một đôi câu đối về dòng văn nơi đây:

Thù xuyên đạo mạch Chu Nam Bắc

Lô lĩnh văn phong tự cổ kim

Nghĩa là:

Đạo Nho từ  sông Thù thông suốt Nam cùng Bắc

Văn phái vùng núi Lò có từ cổ đến nay

Như vậy, núi Lò đã có tiếng là địa danh biểu tượng cho một vùng đất có truyền thống hiếu học, khoa bảng và văn hiến. Bài ca Vịnh cảnh giang sơn Cửa Lò (tương truyền là do Giải nguyên Thái Ngự Y Hoàng Nguyên Lễ sáng tác khi ông về nghỉ hưu vào triều Tự Đức) có mấy câu mở đầu như sau:

Chất ngất mấy Lô Sơn một đỉnh,

Buổi thừa nhàn đủng đỉnh xem trông

Khuôn hoá công khéo vẽ nên hình

Lò thiên địa đúc nên hình khanh tướng...

Núi Lò do tạo hoá tạo nên, lò của trời đất nên rất linh thiêng, là nơi luyện nên tú khí. Gần kề núi Lò có núi Kiếm được Tiến sĩ Dương Thúc Hạp coi là cây kiếm thần được đúc và tôi luyện nhờ núi Lò qua những vần thơ trong bài Kiếm Sơn (tạm dịch) như sau:

Nhìn gần chỉ là núi

Trông xa núi là Gươm

Đúc từ lò tạo hoá

Xảo tinh như quỉ thần

Xuyên khuyết vào núi Lò

Nhúng sôi dòng Cửa Xá

Hừng cả vầng nhật nguyệt

Thấu đến tận Đẩu - Ngưu...

Các hình núi nơi đây là biểu tượng cho các hào kiệt, anh tài một vùng như Cương quốc công Nguyễn Xí, Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh, Hoàng giáp Phạm Nguyễn Du, Đông Hải đại tướng quân Hoàng Phan Thái, Đô đốc Phùng Phúc Kiều... Riêng dòng họ Nguyễn Đình đã có tới hàng chục quận công và tước hầu.

Dưới chân núi Cờ (còn gọi là núi Động Đình) có ngôi mộ Nguyễn Hội do hổ táng. Ông có công lập ra hai đồng muối Thượng Xá (Nghi Xá và Nghi Hợp) và Yên Lương (Nghi Thuỷ). Ông từng đưa muối ra phục vụ cho động chủ Lê Lợi, được Lê Lợi tín nhiệm nhận hai người con trai làm con nuôi, sau đều trở thành công thần khai quốc triều Lê. Nguyễn Xí được đổi quốc tính, được mang họ Lê của nhà vua. Ông cùng con trai là Sư Hồi có công lớn dẹp bọn phản nghịch, tôn lập Lê Tư Thành lên ngôi, tức là vua Lê Thánh Tông, lập nên một triều đại thịnh vượng nhất trong chế độ phong kiến Việt Nam. Nguyễn Xí còn có công nhận hai vị hàng tướng trẻ họ Chế làm con nuôi và đưa các hàng binh của Chiêm Thành về khai phá đất hoang, lập ra các làng xã nay đều thuộc thị xã Cửa Lò.

Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) cho lập hạm đội chiến thuyền lớn đóng tại Xá Tấn (đồn Cửa Xá), sau gọi là Lô Tấn (tấn Cửa Lò) và cử Đô uý Phò mã Nguyễn Sư Hồi làm Trấn thủ thập nhị hải môn (trấn thủ 12 cửa biển từ Sầm Sơn cho đến Cửa Tùng), với chức Đô đốc, thăng Thái uý, tước Quận công. Chính vì vậy, dòng sông Gấm (còn gọi là sông Ngân) được đổi gọi là sông Cấm, núi nơi đóng quân cũng được gọi là núi Cấm (núi ở gần cầu Cấm, trên Quốc lộ 1A). Trấn thủ đã cho quân và dân phu chở đá về xây kè dọc bờ Nam Cửa Xá để bảo vệ cảng căn cứ . Ông lại chiêu tập dân khai phá đất bãi, lập ra làng Vạn Lộc, xã Hải Giang, nay là phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò. Sau khi ông mất, nhân dân lập đền thờ để ghi nhớ công ơn, gọi là Đền Nguyễn Sư Hồi, hay đền Thái uý, còn gọi là đền Vạn Lộc, được xếp hạng Di tích quốc gia. Hàng năm cứ đến Tuần Văn hoá du lịch Cửa Lò (30/4 và 1/5), nhân dân trong vùng lại trân trọng rước bài vị Thần Sư Hồi từ đền ra Quảng trường Bình Minh để mở đầu cho Lễ hội sông biển. Bên cạnh đền Sư Hồi còn có ngôi đền thờ ba cha con quận công Nguyễn Phúc Thọ, Nguyễn Chân Diễn, Nguyễn Văn Trường do có công xả thân vì nước trong thời Lê Trung Hưng. Trước đền còn có tấm bia 4 mặt rất đẹp ghi công ơn của ba cha con. Đền Vạn Lộc còn lưu nhiều câu đối cổ, như câu:

Tiền Gấm thuỷ, hậu Lô sơn, vạn cổ lý nhân văn vật địa

Đông Long triều, tây Tượng phục, thiên thu miếu vũ đức linh thanh

Trước mặt đền thờ, bên tả ngạn sông còn có núi Bảng Nhãn làm bình phong từ xa và cũng là linh khí phát tiết về đường khoa bảng cho thị xã cửa Lò. Theo các tài liệu khoa bảng để lại, Cửa Lò có hàng trăm người đậu từ hiệu sinh, tú tài, hương cống, cử nhân cho đến tiến sĩ, tiêu biểu như: Phạm Nguyễn Du, đậu song nguyên - hoàng giáp năm 1779, làm quan đến Đông các Đại học sĩ; Nguyễn Huy Nhu đậu tiến sĩ năm 1916, làm quan đến Hàn lâm viện Tu soạn, Đốc học Quảng Ninh; Hoàng Văn Cư đậu phó bảng năm 1904, làm quan Đốc học Nghệ An; Vũ Văn Cầu đậu phó bảng năm 1862, làm quan Tri huyện; Phùng Thời Tá đậu tam trường thi Hội (như Phó bảng triều Nguyễn), cùng Hương cống Nguyễn Huy Dực có công lớn trong việc xây dựng Văn Đàn (tức Văn Thánh) của huyện Chân Lộc ở ngay cạnh đền Cửa (tức đền Khánh Duệ), Nghi Khánh... Chỉ tính riêng làng Vạn Lộc đã có tới 66 tú tài, 12 hương cống - cử nhân, 1 phó bảng, 1 tiến sĩ.

Đất lành chim đậu, trong suốt cả quá trình lịch sử hình thành mảnh đất Cửa Lò, đã có nhiều dòng họ di cư đến đây lập nghiệp và tồn tại đến ngày nay. Họ Nguyễn Đình từ huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh sang đã trở thành một cự tộc vẻ vang nhất nước ta thời Lê, phát tích sang triều Nguyễn, phát triển cho đến tận ngày nay. Họ Phùng từ thời Lý có công phù lập nhà Trần, một chi họ ở Phù Long, đến đời thứ 7, ông Phùng Bá Giàu đưa gia tộc đến khai cơ, lập ra làng Lộc Kén, chuyên trồng dâu, nuôi tằm, sau đổi là làng Thu Lũng, nay thuộc phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò. Họ Phùng có ông Phùng Phúc Kiều, thi đậu Tam trường Bác cử (Võ) năm 1741, được cử làm Đốc lệnh quan Đội Thuỷ quân ưu binh thuộc đạo Đông Nam, năm 1753 được giao chức Khả vi Trung tướng quân, coi giữ vùng biển Nghệ An, tiễu phỉ ở đảo Ngư, đảo Mắt. Do có công bắt sống được tướng giặc là Thụ Toại nên ông được triều đình cử làm Đô đốc thống lãnh Thuỷ quân ưu binh, trấn thủ vùng biển từ Thanh Hoá vào đến Hà Tĩnh. Ông còn có công chiêu tập dân lập ra một số làng, xã ở Cửa Lò và lập đội Hương binh bảo vệ vùng biển Cửa Lò. Đền thờ ông Phùng Phúc Kiều và họ Phùng ở Nghi Thu đã được nhà nước xếp hạng di tích để bảo vệ.

Họ Hoàng ở làng Vạn Lộc, nay thuộc phường Nghi Tân, di duệ của Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn, gốc ở Vạn Phần, Diễn Châu có con là Hoàng Khánh về Quỳnh Đôi lấy vợ họ Hồ. Con trai thứ  tám của Hoàng Khánh là Hoàng Tử Nhàn di cư đến Vạn Lộc, phát tích dòng họ Hoàng ở Cửa Lò, Nghi Lộc. Họ Hoàng nối đời khoa bảng, nho y và hoạt động cách mạng nổi tiếng, tiêu biểu như: Hoàng Nguyên Lễ, Giải nguyên khoa thi Thái Ngự  y (1851), làm quan đến Chánh Ngự  y, Phó sứ sang Thanh; Hoàng Văn Cư, đậu Phó bảng, làm quan đốc học; Hoàng Văn Tâm, Bí thư Huyện uỷ Nghi Lộc năm 1930, bị Pháp xử tử hình tại quê nhà; các vị tướng quân đội như Hoàng Niệm, Hoàng Đan, Hoàng Sâm... Nhà thờ họ Hoàng ở Vạn Lộc được nhà nước xếp hạng là Di tích quốc gia. Tại nhà thờ có treo đôi câu đối cổ:

Học hải tiên thanh phong triều tiệm đại

Hàn lâm bản sắc vũ lộ do đa

Nghĩa là:

Biển học đi đầu như thuỷ triều dâng càng rộng mở

Rừng nho bản sắc, ơn mưa móc thấm nhuần dài lâu

Chi họ Hoàng ở Vạn Lộc có ông Hoàng Nguyên Cát là một danh y nổi tiếng với bộ Y thư Quỳ viên gia học gồm 12 tập. Nổi tiếng về Y học ở làng Vạn Lộc còn có ông Phạm Đức Dụ làm đến Chánh Ngự Y. Ông được thờ ở đền Vạn Lộc và được lập bia ghi ơn do Phó bảng Hoàng Văn Cư soạn. Chi họ Hoàng ở Nghi Thu có ông Hoàng Khắc Dòng làm quan đến Tổng tri Thái giám trong triều, từng bỏ tiền của xây đền Thu Lũng, mua ruộng cho dân cày cấy, lấy hoa lợi làm hương hoả cho đền. Ông được dân thờ làm Hậu thần, khắc bia đá để ghi ơn, văn bia do Thám hoa Nguyễn Huy Oánh soạn. Chi họ Hoàng ở Nghi Xuân, Cửa Hội có ông Hoàng Bửu Đôn, nguyên là Chủ tịch Công đoàn đầu tiên của tỉnh Nghệ An, là quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp; ông Hoàng Thanh Dung nguyên là Uỷ viên Tỉnh uỷ Nghệ An hai khoá...

Họ Nguyễn Huy vốn gốc ở xã Bột Thái, huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá, phát tích vào làng Vạn Lộc. Dòng họ này cũng là một dòng họ thi thư, có nhiều người đậu đạt, như Nguyễn Nhân Đảm và Nguyễn Huy Nhu đậu tiến sĩ; Nguyễn Huy Chiểu, Nguyễn Huy Triêm đậu cử nhân và nhiều tú tài khác... Con của Tiến sĩ Huy Nhu là nhà văn Nguyễn Huy Phương và Nguyễn Thị Thanh Hương. Nhà thờ họ Nguyễn Huy còn có đôi câu đối cổ:

Cơ cầu thể khoán Lô Sơn thạch

Thi lễ gia thanh Xá Hải đào

Nghĩa là:

Xiêm áo truyền đời, bền vững như đá núi Lô Sơn

Nếp nhà thi lễ, cuồn cuộn như sóng nước Xá Hải

Họ Chế ở phường Nghi Thu do Cương Quốc công Nguyễn Xí khai hoang, lập làng Hương Ổ. Tại nhà thờ họ còn có tấm bia đá ghi sự tích dòng họ, văn bia do Thám hoa Nguyễn Đức Đạt soạn. Con cháu họ Chế nay có nhiều người thành đạt như Chế Đình Phượng, nguyên là Phó Chủ tịch thị xã Cửa Lò, Chế Đình Hoàng là kiến trúc sư...

Sáu dòng họ đầu tiên đến làng Mai Báng, nay thuộc phường Nghi Thuỷ là Lê, Trần, Nguyễn, Võ, Đặng, Hoàng được Chiêu trưng vương Lê Khôi bảo trợ làm nghề đi biển, rồi khai hoang sản xuất lương thực, xây dựng thành một làng quê giàu đẹp. Dân làng đã lập đền thờ Lê Khôi là Thành Hoàng của làng. Hàng năm làng thường tổ chức Lễ hội Cầu Ngư tại đền Mai Báng.

Với thế đất địa linh nhân kiệt, Cửa Lò đã sản sinh ra rất nhiều nhân tài cho quê hương, đất nước, với đủ các mặt văn, võ, y, nho... Vì thế, nhân dân vùng này tự hào nói rằng: Văn dành đỉnh bút, Võ chiếm đề đao, nền Y học chưa nơi nào sánh kịp. Xin được tạm khép lại bài viết này bởi một đôi câu đối ca ngợi quê hương Cửa Lò - hòn ngọc đẹp của Nghệ An của Tiến sĩ Nguyễn Huy Nhu:

Dạo gót thử  trông xem, kìa Lô Thuỷ, nọ Ngư  Sơn vui thú đâu hơn quê quán cũ

Cầm tay xin nhắc lại, kẻ Lan Tôn, người Quế Tử, vun trồng xin nhớ cội cành xưa

Cửa Lò - viên ngọc xanh của xứ Nghệ vẫn lan toả mãi sắc đẹp, ngày càng hấp dẫn, thu hút du khách muôn phương.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Phản hồi bài viết này bằng facebook
Bấm "Thích" Fanpage Du lịch Cửa Lò để được tư vấn miễn phí

  Ý kiến bạn đọc

Khách sạn tiêu chuẩn
 HỖ TRỢ ONLINE
Khách sạn tiêu chuẩn
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây